Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

Đặc khu kinh tế Trung Quốc: Hào quang và nước mắt ở Thâm Quyến ...

Thâm Quyến được xem là hình mẫu của các đặc khu kinh tế Trung Quốc trong quá khứ và cả tương lai, với sự phát triển chóng mặt nhưng cũng tồn tại nhiều mặt trái.


Leo Houng vẫn nhớ mùi hương của Thâm Quyến vào năm 1974.
“Đó là mùi của đồng quê”, ông nói với Guardian. Năm 1974, Houng dừng lại ở Thâm Quyến trên đường đến Hong Kong để chơi cello cho một dàn nhạc.
Khi đó, con đường gần ga tàu điện Phố Cũ mà Houng đang đứng gần như là tuyến giao thông duy nhất trong khu vực, vỉa hè không được lát gạch và hàng quán thì thưa thớt nhỏ bé. Giờ đây, nơi đó đã trở thành một giao lộ đông đúc ở trung tâm thành phố Thâm Quyến (tức là "lạch nước sâu").
Khi đó, Thâm Quyến vẫn là một làng chài nghèo với khoảng 30.000 dân. Giờ đây, Thâm Quyến là một siêu đô thị với 12 triệu dân, hơn 1.000 tòa nhà cao tầng, trong đó ít nhất 169 tòa cao trên 150 m. Không có gì bất ngờ khi mùi hương đồng cỏ mà ông Houng ngửi được năm ấy đã được thay thế bằng mùi của các cao ốc văn phòng và cửa hàng đắt tiền.

Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 2

Những người như ông Houng có thể thất vọng vì mùi hương “công nghiệp hóa” của thành phố ngày nay. Đường sá đầy xe cộ len giữa những cao ốc màu xám trong một nơi mà kiến trúc sư Rem Koolhaas hẳn sẽ gọi là “thành phố tầm thường”, cụm từ dùng để chỉ những thành phố không có lịch sử. Lịch sử của Thâm Quyến mới chỉ có 40 năm và hầu như mọi người không biết thành phố trông ra sao vào thập niên 1970.
Thế nhưng, 40 năm “chớp mắt” đó chính là sự thần kỳ của Thâm Quyến. Vào thập niên 1990, Thâm Quyến được miêu tả là một thành phố “mỗi ngày xây một cao ốc, 3 ngày làm một đại lộ”. Năm 2016, GDP của thành phố đạt 294 tỷ USD, nhiều hơn cả Bồ Đào Nha hoặc Ireland.
Thâm Quyến hiện là bến cảng bận rộn thứ 3 thế giới trong khi sàn chứng khoán ở thành phố này lớn thứ 22 toàn cầu.
Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 3
Trong khi Hong Kong, thành phố cách Thâm Quyến chỉ một con sông, đang chật vật với nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào ngành tài chính, Thâm Quyến đã tìm ra con đường riêng khi trở thành "thủ phủ công nghệ cao" của Trung Quốc. Thành phố này là nơi đặt trụ sở của các “ông lớn” công nghệ như Huawei, Tencent, ZTE. Viện Gen Bắc Kinh, nơi được chuyên san Naturegọi là “một thế lực trong nghiên cứu ADN”, cũng chuyển từ thủ đô về Thâm Quyến để tìm kiếm một môi trường tốt hơn.
Thành phố này đầy người nhập cư, từ các lãnh đạo tập đoàn cao cấp, sinh viên mới ra trường đến hàng triệu công nhân. Thâm Quyến, nơi chỉ có vài trường đại học nhỏ và không thể sánh được với Bắc Kinh trên “bản đồ học thuật”, lại là nơi các cử nhân tốt nghiệp ở thủ đô tìm về. Dân số chính thức của Thâm Quyến là gần 12 triệu, dù vậy người ta ước tính còn khoảng 6 triệu lao động nhập cư đang sống ở đây.
Houng đứng giữa Thâm Quyến năm 2016 và ngậm ngùi nghĩ rằng ông không thể tìm thấy ai biết được quá khứ của thành phố. Thế nhưng, ở mặt khác, mọi tầng lớp người, cả giàu lẫn nghèo, cả trong và ngoài Trung Quốc, đều đang đổ đến Thâm Quyến để tìm kiếm một tương lai.

Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 4

Tất cả bắt đầu vào năm 1979, khi Thâm Quyến được chọn để trở thành đặc khu kinh tế (SEZ) đầu tiên của một Trung Quốc vừa quyết định mở cửa với thế giới. Bộ luật về Đặc khu Kinh tế năm 1980 định nghĩa đặc khu là “những khu vực mà các doanh nghiệp được đối xử ưu đãi hơn các vùng khác về tỷ suất thuế và phạm vi hoạt động nhằm thu hút vốn nước ngoài và công nghệ tiên tiến để phục vụ cho hiện đại hóa”.
Trao đổi với Zing.vn, ông Guo Wanda, Giám đốc Viện Phát triển Trung Quốc (trụ sở tại Thâm Quyến), nói rằng sự thành công của đặc khu này dựa trên cả chính sách của chính quyền trung ương lúc ấy lẫn vị trí của nó.
“SEZ Thâm Quyến hình thành vào đầu thập niên 1980 khi Trung Quốc đang bắt đầu các chính sách cải cách, mở cửa nền kinh tế. Thâm Quyến là một mô hình đặc biệt ở Trung Quốc và cả thế giới, tất cả các chính sách mở cửa được áp dụng thử nghiệm ở Thâm Quyến”, ông nói.
Vị chuyên gia cho biết việc Thâm Quyến là một thành phố ven biển, đồng thời nằm ngay cạnh Hong Kong, trung tâm tài chính đồng thời là cảng biển lớn của thế giới, cũng là những yếu tố quan trọng đưa đến sự thành công của SEZ này.
"Ban đầu, phần lớn đầu tư bên ngoài vào Thâm Quyến là đến từ Hong Kong. Hiện nay, trong các ngành nghề công nghệ cao, lĩnh vực đang rất phát triển của Thâm Quyến, một lượng lớn vốn và nhân lực cũng đến từ Hong Kong”, ông Guo lý giải.
Dù vậy, trong cuốn sách Learning From Shenzhen (tạm dịch: Bài học Thâm Quyến) với hàng loạt các tiểu luận được các tác giả Mary Ann O’Donnell, Winnie Wong và Jonathan Bach tuyển chọn, người ta thấy ý kiến cho rằng nhiều sáng kiến từ Thâm Quyến đã được tiến hành trong hoàn cảnh khó khăn và luật lệ chỉ được thay đổi khi các ý tưởng được thực hiện thành công.
Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 5
Trong những năm 1980-1990, các công ty đã tận dụng các chính sách ưu đãi của Thâm Quyến để mở công xưởng tại đây, thu hút một lượng lớn nhân công giá rẻ từ các vùng nông thôn của Trung Quốc.
Ông Douglas Zhihua Zeng, nhà nghiên cứu kinh tế của Ngân hàng Thế giới, cho rằng sự thành công của Thâm Quyến chính là công thức cải cách cho Trung Quốc. Với phần lớn các nước đang phát triển, việc áp dụng cải cách kinh tế trên diện rộng là một điều khó khăn. Vì vậy, họ dựa vào các SEZ trước, sau đó mở rộng ra. Đó là trọng tâm của mô hình Đông Á.
“Những SEZ thành công sẽ là sự chứng minh hiệu quả và tạo ra sức lan tỏa cho phần còn lại của cả nền kinh tế”, ông Zeng nói với Zing.vn.
Trong khi đó, ông Guo cho rằng Thâm Quyến không chỉ là hình mẫu cho các vùng khác của Trung Quốc vào thời cải cách mà ngay cả hiện nay, khi đặc khu này thành công trong việc chuyển dịch nền kinh tế từ phụ thuộc đầu tư sang các ngành nghề chất lượng cao và có tính cải tiến. Trong năm 2016, 6 ngành chiến lược gồm công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, năng lượng mới, vật liệu mới, viễn thông và sáng tạo đã đạt 117 tỷ USD, tăng 10,5% và chiếm 40% tổng sản lượng GDP của Thâm Quyến.
“Trong thập niên 1980, Thâm Quyến là hình mẫu cho Trung Quốc về việc phát triển kinh tế thị trường. Đến bây giờ, nó lại là điển hình của nền kinh tế định hướng công nghệ cao", ông Guo nói, cho biết thêm rằng mô hình chủ yếu ở Trung Quốc hiện vẫn là kinh tế phụ thuộc vào đầu tư.
"Chính phủ Trung Quốc muốn đưa Thâm Quyến đi theo hướng kinh tế cải tiến, công nghệ cao. Tại Trung Quốc, đầu tư đóng góp đến hơn 50% GDP của cả nước, nhưng tỷ trọng này ở Thâm Quyến là không đến 20% trong khi các ngành nghề công nghệ cao đóng góp đến hơn 40%”, ông nói.

Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 6

Hiện nay, Trung Quốc có 6 SEZ là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn, Kashgar và đảo Hải Nam. Ngoài ra, Trung Quốc cũng thành lập các "khu vực thương mại tự do" (FTZ) gồm Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Đông, Phúc Kiến.
Các SEZ được đánh giá là đã góp phần lớn vào việc thay đổi bộ mặt Trung Quốc sau hơn 40 năm cải cách mở cửa. Tuy nhiên, câu chuyện thành công của những thành phố như Thâm Quyến không hoàn toàn chỉ có màu hồng. Bức tranh về các SEZ sẽ không hoàn chỉnh nếu không nói đến các khía cạnh tiêu cực của mô hình, bao gồm sự thiếu cân đối trong phát triển, vấn đề đầu cơ, mất đất và tình trạng bóc lột lao động.
Nếu xét ở góc độ hẹp là các chỉ số kinh tế, các SEZ của Trung Quốc vẫn không có được kết quả tích cực như nhau ở mọi thời điểm. Trong giai đoạn đầu, các SEZ gặp nhiều khó khăn do sự tràn ngập của các loại hàng hóa có giá trị sử dụng lâu dài (thâm nhập hợp pháp lẫn bất hợp pháp) đe dọa ngành sản xuất địa phương, dẫn đến sự thiếu hụt ngoại hối và nguy cơ gia tăng lạm phát.
Sau năm 1982, các SEZ mới được nhìn nhận tích cực hơn và được tuyên truyền rộng rãi là hình mẫu cho nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, khi những vùng còn lại của Trung Quốc bắt đầu tự do hóa, tính hấp dẫn của SEZ đã giảm. Các xu hướng đầu tư tỏ ra rất nhạy cảm với những thay đổi về luật pháp và làn sóng tự do hóa ở những nơi khác.
Theo Business China, mô hình đầu tư tại các SEZ cũng khác nhau và chỉ Thâm Quyến thực sự thành công. Trong suốt những năm 1980, Sán Đầu hầu như không thu hút được đầu tư.
Vấn đề đầu cơ và mất đất là những mặt trái khác của SEZ. Khi chính phủ Trung Quốc ưu ái các doanh nghiệp lớn, người nông dân không còn được đảm bảo quyền sử dụng đất, đặc biệt là ở khu vực đô thị hóa và trong các SEZ. Không những vậy, dù có sự điều chỉnh định kỳ về tiêu chuẩn bồi thường, tiền đền bù cho việc thu hồi đất nhìn chung thấp hơn giá trị "thị trường" vốn cũng đã thấp.
"Cơn sốt đặc khu" cùng với sự đầu cơ bất động sản đã tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng với đất canh tác tại Trung Quốc. SEZ Hải Nam là một ví dụ điển hình. Năm 1992, Economist nhận định Hải Nam là "quả bóng đầu cơ lớn nhất thế giới"; "ai nấy ở Hải Nam đều có tiền để đốt"; "không ai còn tính được số lượng tòa nhà văn phòng 30 và 40 tầng được xây dựng".
Vào tháng 6/1998, Ngân hàng Phát triển Hải Nam, ngân hàng chính cho chính quyền tỉnh vay, tuyên bố phá sản. Không lâu sau đó, Tập đoàn Đầu tư và Tín thác Quốc tế Quảng Đông tại tỉnh Quảng Đông, nơi có SEZ Thâm Quyến, cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Đây là vụ phá sản lớn nhất kể từ khi Trung Quốc cải cách mở cửa.
Cho đến năm 1997, do lo ngại về những xu hướng này, chính quyền trung ương Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 7
Sự thịnh vượng của Thâm Quyến và nhiều SEZ Trung Quốc còn được xây lên bằng tình trạng bóc lột lao động tràn lan. Bức tranh u ám về đời sống công nhân ở các SEZ đã được Leslie T. Chang, cựu phóng viên Wall Street Journal, phản ánh qua tiểu thuyết "Gái công xưởng", tác phẩm đoạt giải của Hội Văn bút Mỹ (PEN) năm 2009 ở thể loại phi hư cấu nghiên cứu.
Theo một điều tra năm 2003, ít nhất một nửa số công ty ở Thâm Quyến nợ lương nhân viên và ít nhất 1/3 công nhân Trung Quốc nhận lương ít hơn mức lương tối thiểu. Tỷ lệ lao động bỏ việc là trên 10%. Chỉ tính riêng năm 2006, giới công nhân ở Thâm Quyến đã tiến hành hơn 10.000 cuộc đình công dù không có công đoàn độc lập nào. Quảng Đông cũng là nơi có tỷ lệ tử vong trong giới công nhân rất cao.
Sau nhiều năm, mô hình phát triển cũng như những hệ lụy từ SEZ tại Trung Quốc trở thành mối quan tâm rộng rãi. Năm 1996, Thủ tướng Lý Bằng tuyên bố các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước sẽ không còn có thể nhập khẩu nguyên liệu miễn thuế và không được hưởng thuế suất thấp bất thường như vậy trong 5 năm tiếp theo. Điều này đồng nghĩa với việc yếu tố "đặc biệt" của mô hình "đặc khu" bị loại bỏ.
"Không thể đem vẻ hào nhoáng của những dự án đầu tư đi che đậy 100 sự xấu xí khác", Zhao Xiao, nguyên là cố vấn của Quốc vụ viện Trung Quốc, từng phát biểu vào năm 2006.

Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 8

Trên một chuyến tàu đêm từ quê nhà Trùng Khánh, Xie Lanyou là một trong rất nhiều người đổ xô tới Hùng An cách đó 1.600 km hồi tháng 4. Vùng nông thôn với nhiều đầm lầy chợt náo nhiệt lạ thường kể từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công bố kế hoạch biến nơi đây trở thành đặc khu kinh tế mới của đất nước.
Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 9
Hùng An tân khu được thành lập trên phạm vi 3 huyện Hùng, An Tân và Dung Thành thuộc tỉnh Hà Bắc. Đồ họa: Nhân Lê.
Hùng An tân khu được quy hoạch trên phạm vi 3 huyện thuộc tỉnh Hà Bắc, nhưng nằm gần Bắc Kinh và Thiên Tân, hai thành phố lớn nhất miền Bắc của Trung Quốc. Việc thành lập đặc khu kinh tế mới nhằm giảm áp lực cho thủ đô Bắc Kinh cũng như thúc đẩy nền kinh tế hướng tới dịch vụ và các ngành công nghệ cao. Theo Bloomberg, nếu chính phủ Trung Quốc quyết tâm đầu tư, Hùng An có thể trở thành Thâm Quyến thứ hai, mở ra những cơ hội ngoài sức tưởng tượng.
Bắc Kinh cho hay đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu sẽ gồm 100 km2 và cuối cùng mở rộng lên tới 2.000 km2, tương tự diện tích Thâm Quyến, gấp 3 lần diện tích New York. Tân Hoa xã gọi tham vọng của chính phủ là “chiến lược quan trọng trong thiên niên kỷ tới” trong khi tập đoàn tài chính Morgan Stanley kỳ vọng Trung Quốc sẽ đầu tư khoảng 290 tỷ USD vào cơ sở hạ tầng khu vực này trong 15 năm đầu tiên.
Không cần quá nhiều thời gian để nhận ra rằng ông Tập đang muốn đi theo con đường của Đặng Tiểu Bình, người được coi là đóng vai trò quyết định cho sự trỗi dậy và phát triển của Thâm Quyến. Do đó, khả năng thành công của Hùng An phụ thuộc rất lớn vào việc ông Tập liệu có rút ra được bài học từ những kinh nghiệm của Đặng Tiểu Bình.
Dac khu kinh te Trung Quoc: Hao quang va nuoc mat o Tham Quyen hinh anh 10
Tuy nhiên, có thể thấy dự án thành phố tương lai ở Hùng An có sự khác biệt về bản chất với các đặc khu kinh tế khác vốn được thành lập cách đây trên dưới 3 thập kỷ. Theo Bloomberg, đây không phải một sự thử nghiệm để tìm ra cách thức phát triển đột phá cho nền kinh tế Trung Quốc như Thượng Hải hay Thâm Quyến, mà chỉ đơn giản là một thành phố được xây bằng các điều kiện thuận lợi nhất có thể để trở thành biểu tượng cho sự giàu có mà Trung Quốc đang tự hào.
Để không bị đẩy khỏi tương lai xán lạn đó, Xie cho biết anh sẽ mở cửa hàng bán các món chiên xào đặc sản Trùng Khánh. Người đàn ông 45 tuổi cũng không che giấu tham vọng thuê mảnh đất rộng 600 m2 khác để mở nhà hàng và khách sạn trước khi kết hợp chúng lại thành một chuỗi. Nếu thuận lợi, Xie sẽ chuyển cả gia đình tới đây khi các trường học tốt được xây dựng.
Tuy nhiên, không ít người tỏ ra băn khoăn về nguy cơ dự án Hùng An sẽ làm gia tăng nợ công đang ngày càng phình rộng của Trung Quốc, cũng như gây ảnh hưởng tới các mục tiêu mà chính phủ đặt ra về tăng trưởng kinh tế chậm nhưng bền vững và phân bổ vốn thông minh. Năm ngoái, tổng số nợ của Trung Quốc tương đương 258% sản lượng kinh tế, tăng từ 158% hồi năm 2005.
Dù thế nào, các nhà đầu tư vẫn cho thấy họ không muốn phí phạm thời gian. Hàng trăm tay săn nhà đất bất ngờ kéo đến vùng nông thôn Hà Bắc sau khi có thông báo về dự án. Truyền thông địa phương loan tin giá nhà đất đã tăng gần gấp đôi chỉ trong vài giờ.

Tổng quan về các trường phái lý thuyết kinh tế trong lịch sử


Bối cảnh xã hội của con người thay đổi liên tục, buộc các nhà kinh tế học tìm kiếm những giải pháp mới. Từ những sự tìm kiếm này, các lý thuyết mới ra đời.
Từ “kinh tế học” (khoa học kinh tế) có nguồn gốc từ oikonomikos, có nghĩa là kỹ năng quản lý hộ gia đình. Mặc dù từ này đã xất hiện từ rất lâu, các nguyên tắc kinh tế như chúng ta hiểu ngày nay mới tương đối phát triển trong thời gian gần đây. Tư tưởng kinh tế hiện đại đã nổi lên từ thế kỷ 17 và thế kỷ 18 ở thế giới phương Tây bắt đầu  từ quá trình chuyển đổi từ một xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp.
Mặc dù có sự khác biệt rất lớn giữa thời kỳ nguyên sơ và hiện nay, các vấn đề kinh tế mà xã hội tranh đấu vẫn không hề thay đổi:
  • Chúng ta quyết định sản xuất cái gì với nguồn lực giới hạn và với cách thức như thế nào?
  • Bằng cách nào chúng ta có thể bình ổn giá và đảm bảo việc làm đầy đủ với nguồn lực hiện có?
  • Làm thế nào để gia tăng mức sống chuẩn cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ tương lai?
Sự phát triển trong các tư tưởng kinh tế hướng đến việc trả lời cho những câu hỏi trên từng bước riêng biệt hơn là phát triển một cách thuận lợi theo thời gian. Một trường phái ý tưởng mới đột nhiên nổi lên làm thay đổi mức sản lượng trong nền kinh tế mang lại những hiểu biết mới và làm cho các học thuyết hiện tại lỗi thời. Cuối cùng trường phái mới đã trở thành quan điểm chung, và tiếp tục được đẩy sang các học thuyết khác bởi làn sóng của những ý tưởng mới.
Quá trình này đang tiếp tục ngày hôm nay và thúc đẩy lực lượng của nó vẫn còn giống như ba thế kỷ trước đây: hiểu được nền kinh tế chúng ta có thể sử dụng nó một cách khôn ngoan để đạt được các mục tiêu của xã hội.
Trường phái trọng thương (Mercantilists)
Chủ nghĩa trọng thương là triết lý kinh tế được thông qua bởi các thương nhân và các chính khách trong suốt thế kỷ 16 và thế kỷ 17. Chủ nghĩa trọng thương cho rằng sự giàu có (của cải) của một quốc gia chủ đến yếu từ việc tích lũy (tiền tệ) vàng và bạc. Các quốc gia không có mỏ có thể có được vàng và bạc chỉ bằng cách bán nhiều hàng hóa hơn so với việc mua từ nước ngoài. Theo đó, các nhà lãnh đạo của các quốc gia can thiệp rộng rãi vào thị trường, áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nước ngoài để hạn chế nhập khẩu thương mại, và cấp các khoản trợ cấp để cải thiện triển vọng xuất khẩu đối với các loại hàng hoá trong nước. Chủ nghĩa trọng thương đại diện cho việc đánh giá lợi ích thương mại liên quan tới mức độ chính sách quốc gia.
Trường phái trọng nông (Physiocrats)
Trường phái trọng nông, nhóm các triết gia thế kỷ 18 ở Pháp, đã phát triển ý tưởng về nền kinh tế như là một dòng chu kỳ của thu nhập và sản lượng. Họ phản đối các chính sách của trường phái trọng thương trong việc thúc đẩy thương mại làm tăng chi phí nông nghiệp vì họ tin rằng nông nghiệp là nguồn gốc của cải duy nhất của một nền kinh tế. Các nhà kinh tế trọng nông ủng hộ chính sách tự do kinh doanh (laissez-faire), ngược lại với các quy tắc thương mại đa dạng của các nhà kinh tế trọng thương, và kêu gọi chính phủ can thiệp tối thiểu vào nền kinh tế.
Trường phái Cổ điển (Classical School)
Trường phái lý thuyết kinh tế học cổ điển bắt đầu với công trình vĩ đại của Adam Smith được xuất bản năm 1776 dưới tên “Của cải của các quốc gia” (The Wealth of Nations).
Cuốn sách xem đất đai, lao động, và vốn như là ba nhân tố đầu vào trong quá trình sản xuất và đóng góp chính cho tài sản của một quốc gia. Theo quan điểm của Smith, nền kinh tế lý tưởng là hệ thống thị trường tự điều chỉnh một cách tự động làm thỏa mãn các nhu cầu kinh tế của công chúng.
Ông mô tả cơ chế thị trường (market mechanism) như một “bàn tay vô hình” (invisible hand) dẫn dắt hành động của tất cả các cá nhân, khi theo đuổi lợi ích cá nhân của bản thân mình, vô hình tạo ra lợi ích lớn nhất cho toàn xã hội. Smith hợp nhất một số ý tưởng của trường phái trọng nông, bao gồm cả chính sách tự do kinh doanh (laissez-faire), vào lý thuyết kinh tế của ông, nhưng bác bỏ ý tưởng cho rằng chỉ có nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Trong khi Adam Smith nhấn mạnh thu nhập từ sản xuất, David Ricardo tập lại trung vào việc phân phối thu nhập giữa địa chủ, công nhân, và nhà tư bản. Ricardo đã nhận thấy sự xung đột lợi ích giữa một bên là địa chủ và nông điền và một bên là công nhân và nhà tư bản. Ông thừa nhận rằng sự tăng trưởng dân số và vốn, gây áp lực đối lập với nguồn cung đất cố định, đẩy giá thuê lên cao và làm giảm tiền lương và lợi nhuận.
Thomas Robert Malthus sử dụng ý tưởng quy luật lợi tức giảm dần (diminishing returns) để giải thích cho các chuẩn mức sống (living standards) thấp. Ông lập luận rằng, dân số,  có xu hướng tăng lên theo cấp số nhân (increased geometrically), vượt xa mức sản xuất thực phẩm, gia tăng theo cấp số cộng (increased arithmetically). Áp lực gia tăng dân số nhanh đối mặt với một số lượng đất đai hạn chế, nghĩa là lợi tức giảm dần theo lao động. Kết quả là, ông cho rằng, tiền lương phải luôn giữ ở mức thấp, duy trì mức sống tối thiểu (the standard of living) cho phần lớn dân số ở mức độ đủ sống (subsistence level).
Malthus cũng đặt câu hỏi về xu hướng tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường tạo ra việc làm đầy đủ. Ông cho rằng thất nghiệp xảy ra khi xu hướng của nền kinh tế hạn chế chi tiêu và tiết kiệm quá nhiều, một chủ đề bị lãng quên cho đến khi John Maynard Keynes đem ra soi xét lại trong những năm 1930.
Đến giai đoạn cuối của trường phái cổ điển truyền thống, John Stuart Mill đã phân định với các nhà kinh tế cổ điển trước đó về tính tất yếu của phân phối thu nhập mà hệ thống thị trường mang lại. Mill chỉ ra một sự khác biệt rõ rệt giữa hai vai trò của thị trường: sự phân bổ các nguồn lực (allocation of resources) và sự phân phối thu nhập (distribution of income). Ông cho rằng, thị trường có thể hiệu quả trong phân bổ nguồn lực nhưng chưa hẳn hiệu quả trong phân phối thu nhập, do đó sự can thiệp vào xã hội là cần thiết.
Trường phái cách tân (Marginalist School)
Các nhà kinh tế học cổ điển đưa ra giả thuyết cho rằng giá được xác định bởi các chi phí sản xuất. Các nhà kinh tế cách tân nhấn mạnh rằng giá cả cũng phụ thuộc vào mức độ nhu cầu, mức cầu này phụ thuộc vào mức độ hài lòng của khách hàng khi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cụ thể.
Các nhà kinh tế học cách tân (Marginalists) cung cấp mô hình kinh tế vĩ mô hiện đại với các công cụ phân tích cơ bản giữa cung và cầu (demand and supply), lợi ích người tiêu dùng (consumer utility), và mô hình toán học (mathematical framework) cho việc sử dụng các công cụ này. Các nhà kinh tế học cách tân cũng chỉ ra rằng trong một nền kinh tế thị trường tự do (free market economy), các nhân tố sản xuất – đất, lao động và vốn – lợi tức thu được bằng mức đóng góp của chúng vào quá trình sản sản xuất. Nguyên lý này đôi khi được sử dụng để giải thích cho việc phân phối thu nhập: nghĩa là cá nhân nhận được khoản thu nhập bằng đúng với mức tài sản hoặc công sức của họ đóng góp trong quá trình sản xuất.
Trường phái Marxist (Marxist School)
Trường phái Marxist thách thức nền tảng lý thuyết cổ điển. Công trình được viết trong thời gian giữa thế kỷ 19, Karl Marx nhận thấy chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn tiến triển mới trong phát triển kinh tế. Ông tin rằng cuối cùng thì chủ nghĩa tư bản (Capitalism) sẽ tự diệt vong và và sẽ được tiếp nối bằng một thế giới không còn sở hữu tư nhân.
Theo đuổi lý thuyết giá trị lao động, Marx tin rằng toàn bộ sản phẩm thuộc về lao động bởi vì công nhân sản xuất ra tất cả giá trị trong xã hội. Ông tin rằng hệ thống thị trường cho phép nhà tư bản, sở hữu máy móc và nhà xưởng, để bóc lột công nhân bằng cách không chia sẻ công bằng những gì mà họ tạo ra. Marx dự đoán Chủ nghĩa tư bản làm cho giai cấp công nhân ngày càng thảm hại hơn khi mà giới tư bản cạnh tranh vì lợi nhuận từ đó tiếp nhận những máy móc thiết bị để tiết kiệm lao động, tạo ra “lực lượng thất nghiệp dự bị” (reserve army of the unemployed) – giai cấp vô sản, những người này cuối cùng sẽ đứng lên và giành lấy phương tiện sản xuất.
Trường phái thể chế (Institutionalist School)
Các nhà kinh tế học thể chế xem hành vi kinh tế của cá nhân như là một phần của mô hình xã hội rộng lớn bị ảnh hưởng bởi lối sống và cách suy nghĩ. Họ bác bỏ quan điểm hẹp Cổ điển rằng tính tư lợi kinh tế (economic self-interest) là độc lực chính của con người. Họ phản đối quan điểm thị trường tự do (laissez-faire) hướng tới vai trò của chính phủ trong nền kinh tế, Trường phái thể chế kêu gọi Chính phủ điều tiế và cải cách xã hội nhằm phân phối thu nhập công bằng hơn.
Trường phái Keynes (Keynesian School)
Phản ứng với mức độ khủng hoảng nghiêm trọng trên toàn thế giới (The worldwide depression), John Maynard Keynes năm 1936 đã phá vỡ truyền thống kinh tế học Cổ điển với việc công bố ấn phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest, and Money). Quan điểm Cổ điển giả định rằng trong thời kỳ suy thoái, tiền lương và giá cả sẽ giảm để khôi phục lại việc làm đầy đủ. Keynes cho rằng điều ngược lại mới đúng. Giá cả và tiền lương hạ, làm suy giảm thu nhập cá nhân, ngăn chặn sự hồi phục chi tiêu. Ông nhấn mạnh rằng việc phủ can thiệp trực tiếp là cần thiết để tăng tổng chi tiêu.
Lập luận của Keynes minh chứng cho cơ sở hợp lý của việc sử dụng chi tiêu chính phủ và thuế để ổn định nền kinh tế. Chính phủ sẽ gia tăng chi tiêu và giảm thuế khi tiêu dùng cá nhân là không đủ và một cuộc suy thoái đe dọa; Hoặc là sẽ giảm chi tiêu và tăng thuế khi tiêu dùng cá nhân là quá lớn và lạm phát đe dọa. Khung phân tích của ông, tập trung vào các yếu tố xác định tổng chi tiêu (total spending), vẫn là cốt lõi của phân tích kinh tế vĩ mô hiện đại.
Trường phái Tân Cổ điển (Neo-Classical)
Trường phái Kinh tế học vĩ mô tân cổ điển phát triển từ hai nguồn khác biệt nhưng có liên quan đến nhau: phê bình kinh tế học truyền thống về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Ở khía cạnh lý thuyết, đó là sự bỏ qua khái niệm kỳ vọng trong các mô hình kinh tế học truyền thống. Ở khía cạnh thực nghiệm, tình trạng đình đốn (stagflation) của nền kinh tế Mỹ trong suốt những năm 1970 khiến người ta tìm kiếm những lý thuyết khác để giải thích cho sự thất bại của Đường cong Phillips.
Vào cuối những năm 1980, những nhận định của trường phái kỳ vọng hợp lý đã thách thức sự phát triển của kinh tế hoch vĩ mô. Trường phái kinh tế này với đại diện bởi R. Lucas và T. Sargent, các tác giả cho rằng trong kinh tế vĩ mô, trường phái Keynes đã bỏ qua tác động của kỳ vọng đến hành vi. Trường phái này cũng cho rằng con người hình thành “kỳ vọng” một cách hợp lý nhất có thể dựa trên những thông tin mà họ có được. Mô hình của trường phái này tính đến tác động của kỳ vọng hợp lý trong hành vi của con người và doanh nghiệp trên thị trường thông qua các hành vi “động” bên trong lý thuyết trò chơi.
Trường phái trọng tiền (Monetarism)
Phân tích kinh tế của Trường Phái Trọng tiền  tập trung vào tốc độ chu chuyển của đồng tiền, có nghĩa là số vòng quay của tiền mà đồng tiền dịch chuyển trong một thời đoạn nhất định – thường là một năm. Các nhà kinh tế học trường phái Trọng tiền cho rằng lạm phát dai dẳng đơn thuần là một hiện tượng tiền tệ. Vì thế, lạm phát không thể tiếp diễn mãi trừ khi Ngân hàng Trung ương cố gắng điều tiết bằng cách gia tăng cung tiền. Trường phái này cũng cho rằng hầu hết các bất ổn trong nền kinh tế là do Chính phủ gây ra và nghi ngờ khả năng quản lý của Chính phủ đối với kinh tế vĩ mô. Họ cho rằng cung tiền tăng trưởng với tốc độ bằng với tốc độ tăng trưởng bình quân của sản lượng (hay thu nhập của nền kinh tế). Ngân hàng Trung ương nên tăng cung tiền để điều tiết tốc độ tăng trưởng thực chứ không phải là lạm phát.
Theo THỊ TRƯỜNG TỰ DO

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

Người La Mã “nhốt” quyền lực vào “lồng” thể chế cộng hòa như thế nào?

Lãnh thổ của Cộng hòa La Mã thời kỳ cuối. Ảnh: LibGuides
Theo sử gia Polybius viết trong bộ “The Histories”, nền Cộng hòa La Mã là một dạng “chính quyền hỗn hợp” bao gồm ba bộ phận quân chủ, quý tộc, và dân chủ. Trong đó, các Quan Chấp chính (Consules) đại diện cho bộ phận quân chủ, Viện Nguyên lão (Senatus) đại diện cho bộ phận quý tộc, còn Hội Đồng các Century (Comitia Centuriata) đại diện cho bộ phận dân chủ.
Kiểu chính quyền hỗn hợp này đã giúp La Mã trở thành một nền cộng hòa ổn định nhất so với mọi kiểu thể chế đương thời, thậm chí là so với nhiều thể chế về sau.
Vấn đề của các chính quyền đơn nhất
Theo Polybius, dựa vào số lượng người cai trị, ta có thể phân chia chính quyền thành ba dạng: quân chủ (do một người cai trị), quý tộc (do một nhóm người thuộc tầng lớp giàu sang cai trị), và dân chủ (do đa số dân chúng cai trị).
Ba dạng chính quyền này, theo thời gian, sẽ thoái hóa thành các dạng thức suy đồi sau: quân chủ sẽ hóa thành độc tài chuyên chế, quý tộc sẽ chuyển thành tập đoàn đầu sỏ, và dân chủ sẽ biến thành vô chính phủ.
Chế độ quân chủ có ưu điểm là linh hoạt và hiệu quả, vì thông thường nhà vua có toàn quyền quyết định chính sách mà không cần phải thông qua tranh luận. Tuy nhiên, chế độ này dễ dẫn đến lạm quyền cũng như hạn chế các quyền tự do chính trị của công dân.
Polybius cho rằng chế độ quân chủ chắc chắn sẽ bị thay thế bởi chế độ quý tộc, bởi khi mà giới giàu có không còn muốn sống dưới sự cai trị của một ông vua, họ sẽ thiết lập một nền cai trị do một tập thể của những công dân giàu có và ưu tú nhất lãnh đạo.
Tuy nhiên, chế độ quý tộc rồi cũng rơi vào suy đồi, khi người giàu thay vì phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội thì lại chỉ theo đuổi lợi ích của chính họ. Do đó, Polybius khẳng định rằng chế độ quý tộc cuối cùng sẽ bị thay thế bởi chế độ dân chủ, nơi mà mọi công dân có quyền bỏ phiếu và tham gia vào việc cai trị.
Song, chế độ dân chủ vẫn sẽ lại suy đồi, khi những kẻ mị dân được dân chúng bầu lên nắm quyền và thực thi các chính sách thảm họa. Một khi dân chủ rơi vào cảnh vô chính phủ, thì tình trạng này chỉ có thể chấm dứt khi một kẻ đầy quyền lực khôi phục lại trật tự, thâu tóm mọi quyền hành và tự đặt mình làm vua.
Vòng tròn thay đổi chế độ lại lặp lại, chế độ quân chủ lại sẽ bị thay thế một lần nữa bởi chế độ quý tộc, rồi quý tộc bởi dân chủ, cứ như thế tiếp diễn. Đó chính là chu kỳ chuyển dịch giữa các dạng chính quyền.
Polybius cho rằng sự chuyển dịch này gây ra ảnh hưởng tai hại. Nó khiến quốc gia liên tục rơi vào các cuộc nội chiến, phải thay đổi thể chế và chịu đựng bất ổn dài hạn. Đây cũng chính là lý do khiến cho các thành bang Hy Lạp thất bại thảm hại trước quân Macedonia xâm lược dưới tay Philipos II (cha của Alexandre Đại Đế) hồi năm 338 TCN.
Tuy nhiên, Cộng hòa La Mã không gặp phải vấn đề như vậy nhờ hệ thống chính trị của họ. Họ đã thiết kế một thể chế có thể ngăn chặn được sự chuyển dịch này, và tạo ra sự ổn định chính trị trong nhiều thế kỷ. Đây chính là cơ sở để cho La Mã thống nhất bán đảo Ý, sau đó chinh phục và duy trì một cường quốc trên vùng Địa Trung Hải.
Về chính quyền hỗn hợp của La Mã
Theo Polybius, chìa khóa thành công của nền Cộng hòa La Mã chính là cơ chế phân quyền, với ba bộ phận quyền lực: Hội đồng các Century, Quan Chấp chính, và Viện Nguyên lão.
Hội đồng các Century (Comitia Centuriata)
Hội đồng các Century là cơ quan có quyền lập pháp tối cao của nền Cộng hòa, bao gồm toàn thể công dân La mã, được phân chia thành 192 đơn vị Century. Mỗi đơn vị Century có một phiếu bầu trong hội đồng. Một đơn vị Century có tối đa 100 công dân. Việc phân chia công dân vào mỗi Century tùy theo mức độ giàu có của công dân.
Hội đồng các Century họp hai lần mỗi năm tại Quảng trường Mars – để quyết định những vấn đề cơ bản của xã hội như tuyên chiến hay nghị hòa, bầu chọn quan Chấp chính và các quan chức khác, và thông qua các dự luật do quan chấp chính đề nghị.
Quan chấp chính (Consules)
Để ngăn chặn nguy cơ những kẻ tham vọng muốn khôi phục chế độ quân chủ, Hội đồng các Century bầu lên hai quan Chấp chính với nhiệm kỳ một năm. Họ có các nhiệm vụ như điều hành hoạt động nhà nước, đứng đầu quân đội, thực thi luật pháp, triệu tập Hội đồng, cũng như trình các dự luật cho Hội đồng này thông qua.
Mỗi quan Chấp chính còn có quyền đề ra các sắc lệnh có hiệu lực như luật, nhưng quan Chấp chính kia có thể bác bỏ những sắc lệnh này bằng cách sử dụng quyền phủ quyết. Khi cả hai quan Chấp chính cùng có mặt ở trong nước, thì họ thực thi thẩm quyền của mình tuần tự mỗi người một tháng và cứ thế xoay vòng. Trong thời chiến, thông thường một người sẽ nắm quân đội ngoài chiến trường, còn người kia ở lại trong nước để cáng đáng công việc quốc gia.
Khi quốc gia lâm nguy, một trong các quan chấp chính (hoặc một người khác) có thể được Viện Nguyên lão bổ nhiệm thành một nhà độc tài. Anh ta, với quyền lực hợp nhất từ cả hai quan chấp chính, có toàn quyền hành động theo những gì được cho là cần thiết để bảo vệ quốc gia. Tuy nhiên anh ta chỉ được phép nắm quyền trong vòng tối đa là sáu tháng. Sau khi vấn đề đã được giải quyết, anh ta phải trả lại quyền lực cho nền cộng hòa.
Viện Nguyên lão của Cộng hòa La Mã. Ảnh: historiaybiografias.com
Viện Nguyên lão (Senatus)
Viện Nguyên lão gồm các thành viên có nguồn gốc quý tộc với nhiệm kỳ suốt đời. Về mặt chức năng, đây là một cơ quan tư vấn cho các quan Chấp chính và người dân. Tuy nhiên, theo thời gian thì thẩm quyền và ảnh hưởng của Viện Nguyên lão tăng lên. Viện Nguyên lão có quyền thảo luận và định hình các dự luật trước khi các quan Chấp chính trình chúng cho Hội đồng các Century. Viện nguyên lão cũng chi phối các chính sách tài chính, quyết định quỹ nào được sử dụng cho chiến tranh và quỹ nào cho công trình công cộng, đây chính là nguyên nhân khiến nó thực sự kiểm soát nhà nước.
Vì các Nguyên lão thường tại vị suốt đời, nên Viện Nguyên lão uy thế hơn hẳn so với các quan Chấp chính, những người chỉ nắm giữ quyền lực trong một năm.
Kiểm soát và cân bằng
Cộng hòa La Mã đã phân chia quyền lực thành ba bộ phận chính như trên. Chính kiểu thể chế này đã cho phép mỗi nhánh của chính quyền có thể kiểm soát các nhánh khác.
Sử gia Polybius (200-118 TCN), tác giả bộ sử nổi tiếng viết về nền Cộng hòa La Mã. Ảnh: Britannica
Các quan Chấp chính có thể kiểm soát lẫn nhau thông qua quyền phủ quyết của mình. Viện Nguyên lão có thể kiểm soát các quan Chấp chính bằng cách không phê duyệt ngân sách. Người dân (thông qua Hội đồng các Century) có thể kiểm soát quan Chấp chính bằng cách không thông qua các đề nghị bổ nhiệm, hoặc kiểm soát Viện Nguyên lão bằng cách từ chối chấp nhận các dự luật mà Viện Nguyên lão muốn thông qua.
Tuy nhiên, người dân cũng phải hợp tác với các Quan chấp chính và Viện nguyên lão để có thể thụ hưởng các lợi ích đến từ việc làm và chi tiêu công. Bên cạnh đó, vì các quan chấp chính thường là thành viên Viện Nguyên lão trước khi được bầu chọn, và trở lại Viện Nguyên lão sau khi hết nhiệm kỳ chấp chính, nên mối quan hệ giữa Viện Nguyên lão và các quan Chấp chính rất gần gũi.
Khi nền cộng hòa đối mặt với mối đe dọa, cả ba nhánh chính quyền cùng hợp tác để bảo vệ quốc gia. Đồng thời nếu một nhánh trở nên quá mạnh, hai nhánh kia có thể hợp tác để kiểm soát quyền lực của nó.
Bằng cách kết hợp theo kiểu kiểm soát và cân bằng của ba bộ phận quân chủ, quý tộc, và dân chủ như vậy, Cộng hòa La Mã đã khiến cho quyền lực không bị lạm dụng, lợi ích chung được đảm bảo, và từ đó nền cộng hòa đi vào ổn định. Cơ chế này giúp cho La Mã tránh được vòng xoáy chuyển đổi thể chế liên tục và đầy bạo lực – tình trạng mà các kiểu chính quyền đơn nhất luôn bị cuốn vào do thiếu kiểm soát quyền lực.
Cộng hòa La Mã đã để lại nhiều bài học cho thế hệ sau trong việc xây dựng một chính quyền. Một trong những bài học trung tâm của nó chính là: để chống lạm quyền, quốc gia cần phải có cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực.
Trong các bản hiến pháp dân chủ ngày nay, việc kiểm soát và cân bằng được thực hiện nhờ ba nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Ý tưởng ấy có thể được coi là bắt nguồn từ cơ chế phân quyền với ba bộ phận quân chủ, quý tộc, và dân chủ của La Mã hai ngàn năm trước đây.

Dân chủ(Democracy)







Dân chủ(Democracy)
Dân chủ là một phương pháp ra quyết định tập thể trong đó mọi thành viên đều có quyền ngang nhau khi tham gia ra quyết định. Dân chủ cũng để chỉ một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự.
Theo nhà khoa học chính trị Larry Diamond, chế độ dân chủ bao gồm bốn yếu tố chính:
-Một hệ thống chính trị cho việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng.
-Sự tham gia tích cực của công dân, trong chính trị và đời sống dân sự.
-Bảo vệ quyền con người của mọi công dân.
-Nguyên tắc của pháp luật, trong đó các luật và thủ tục áp dụng chung cho tất cả các công dân
Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ V TCN với cụm từ δημοκρατία ([dimokratia] (trợ giúp·thông tin)), "quyền lực của nhân dân" được ghép từ chữ δήμος (dēmos), "nhân dân" và κράτος (kratos), "quyền lực" vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN. Tương truyền, hình thức nhà nước này được Quốc vương Theseus - vị vua khai quốc của thành bang Athena - áp dụng lần đầu tiên trong thời kỳ thượng cổ. Chính phủ đó được xem là hệ thống dân chủ đầu tiên. Tại đó, người dân bầu cho mọi việc. Nhiều người xem hệ thống tại Athena chỉ diễn tả một phần của nền dân chủ vì chỉ có một thiểu số được bầu cử, trong khi nữ giới và dân nô lệ không được phép bầu. Các nền văn hóa khác cũng có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của dân chủ như Đông Á, Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đại, Châu Âu, và Nam Bắc Mỹ. Tại các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, tuy nhà vua nắm quyền tối cao nhưng mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều phải được nhà vua đem ra bàn luận với bá quan văn võ. Sau quá trình thảo luận, nhà vua sẽ là người ra quyết định dựa trên ý kiến của các quan. Đó là cơ chế làm việc tương tự với các nghị viện trong nền dân chủ hiện đại chỉ khác nhau ở chỗ nhà vua có quyền quyết định tối hậu còn nghị viện ban hành luật pháp dựa trên quan điểm số đông. Ngoài ra còn có Ngự sử đài có chức năng hặc tấu tất cả mọi việc có ý nghĩa can gián những việc không đúng hoặc chưa tốt của vua và quan lại. Đây cũng là một định chế làm tăng tính dân chủ của bộ máy nhà nước quân chủ Đông Á.
Ở mọi nền văn minh, nền dân chủ tồn tại trong các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, công xã, làng xã... từ thời thượng cổ, ở nhiều nơi tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cộng đồng sẽ do cộng đồng bầu chọn. Đó là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước xuất hiện. Nghĩa của từ "dân chủ" đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay vì từ thế kỷ thứ XVIII đã có nhiều chính phủ tự xưng là "dân chủ". Trong cách sử dụng ngày nay, từ "dân chủ" chỉ đến một chính phủ được dân chọn, không cần biết bằng cách trực tiếp hay gián tiếp. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ luật, nhưng vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia không công nhận các nhóm sắc tộc nào đó.
Dân chủ được gọi là "hình thức nhà nước cuối cùng" và đã lan rộng trên khắp toàn cầu.
Những nền dân chủ hiện đại bao gồm những định chế sau đây:
-Hiến pháp để giới hạn các quyền và kiểm soát hoạt động của chính phủ, có thể là hiến pháp thành văn, bất thành văn hoặc hỗn hợp cả hai loại.
-Bầu các ứng cử viên một cách tự do và công bằng.
-Quyền bầu cử và ứng cử của người dân.
-Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, v.v...
-Quyền tự do báo chí và quyền truy cập thông tin từ nhiều nguồn.
-Quyền tự do giao thiệp.
-Quyền công bằng trước pháp luật và xét xử tuân theo quy tắc của pháp luật.
-Người dân được thông tin về quyền lợi và trách nhiệm dân sự.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa hay còn gọi là dân chủ nhân dân là cụm từ mô tả nền dân chủ của các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Các nước xã hội chủ nghĩa đều tuyên bố mình là nền dân chủ, thậm chí còn gắn từ "dân chủ" vào tên nước như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Dân chủ Đức, Campuchia Dân chủ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên... Từ khi hệ tư tưởng Marx - Lenin ra đời và phong trào vô sản nổi lên, tạo nên ý thức hệ đối lập với chủ nghĩa tư bản thì khái niệm dân chủ cũng được chia thành hai thể loại chính, những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội thường gọi hệ thống dân chủ phương Tây là "dân chủ tư sản" (dân chủ thực chất dành riêng cho giai cấp tư sản), đồng thời gọi hệ thống dân chủ của các nước xã hội chủ nghĩa là "dân chủ nhân dân" (dân chủ cho tất cả nhân dân). Ý tưởng ban đầu về nền dân chủ nhân dân là dân chủ trực tiếp trong các cộng đồng dân cư được gọi là công xã. Hệ thống dân chủ nhân dân cuối cùng biến thành các hội đồng nhân dân (còn gọi là Soviet) bao gồm các đại biểu do nhân dân bầu ra tương tự với nền dân chủ đại nghị phương Tây. Ý tưởng dân chủ nhân dân kết hợp với ý tưởng chuyên chính vô sản hình thành khái niệm chuyên chính dân chủ nhân dân. Tại các nước cộng sản áp dụng mô hình nhà nước Leninist quyền lãnh đạo thật sự nằm trong tay một đảng cầm quyền duy nhất chứ không thuộc về các hội đồng nhân dân.
Những người ủng hộ nền dân chủ phương Tây gọi hệ thống dân chủ của họ là thế giới tự do, gọi các nước xã hội chủ nghĩa là chế độ toàn trị. Mỗi bên có quan niệm khác nhau về chủ đề này. Những người ủng hộ dân chủ phương Tây thường nhấn mạnh vào khía cạnh đầu phiếu phổ thông, các quyền tự do chính trị, tự do dân sự. Phía xã hội chủ nghĩa lại nhấn mạnh vào khía cạnh làm chủ giá trị thặng dư, tư liệu sản xuất, phân phối của cải xã hội công bằng và phúc lợi xã hội.
Theo phía những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản như những người tự do hay bảo thủ, dân chủ đi kèm với đa nguyên chính trị và đa đảng - mặc dù cơ chế không bộc lộ đầy đủ giá trị dân chủ. Những người dân tộc chủ nghĩa (kể cả một số ủng hộ chủ nghĩa tư bản) và chủ nghĩa phát xít thường khước từ cơ chế này. Trong khi đó những người xét lại chủ nghĩa Marx (dân chủ xã hội) chấp thuận một nền "dân chủ thuần túy" trong khi vẫn tự cho mình đấu tranh quyền lợi công nhân. Ngược lại những người cộng sản chính thống ủng hộ cho chế độ một đảng cộng sản, sự nhất nguyên chính trị và thực hành nền "dân chủ xã hội chủ nghĩa" trước khi xã hội chuyển sang xã hội cộng sản được Marx miêu tả "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người". Những người ủng hộ tôn giáo hay thần quyền thường khước từ dân chủ nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của họ cũng thay đổi và chấp thuận một nền dân chủ gắn với tôn giáo.
Hiện nay các quốc gia có nền dân chủ vẫn luôn ước mong và vận động, kêu gọi các quốc gia chưa có nền dân chủ hãy nên mạnh dạn cải cách chính trị theo hướng dân chủ hóa để tạo điều kiện thiết lập một nền dân chủ thật sự. Sự lan truyền của tư tưởng dân chủ từ các nước phương Tây sang các nước khác thành một làn sóng dân chủ. Làn sóng dân chủ đã trở thành một trào lưu chính trị có ảnh hưởng trên thế giới. Tuy nhiên, sự tồn tại của nền dân chủ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại của một quốc gia chứ không thể áp đặt từ bên ngoài. Nó là kết quả của một quá trình tiến hóa xã hội lâu dài dựa trên sự phát triển của nhân tính và lý tính thông qua quá trình khai sáng kéo dài nhiều thế hệ. Nền dân chủ phương Tây hiện nay là kết quả của quá trình tiến hóa xã hội kéo dài trong suốt 500 năm qua trong đó dân chủ sẽ tăng lên cùng với thu nhập bình quân đầu người và trình độ dân trí. Nhiều phong trào dân chủ trên thế giới được phương Tây ủng hộ không thiết lập nổi một nền dân chủ ổn định mà chỉ dẫn tới hỗn loạn và nội chiến do các phe phái chính trị không thể hợp tác với nhau để duy trì nền dân chủ mà đấu tranh với nhau để giành quyền lực với sự hỗ trợ của ngoại bang còn dân chúng bị lôi cuốn vào cuộc xung đột đó. Điển hình như một số nước Trung Á và Trung Đông từng trải qua các cuộc cách mạng dân chủ được phương Tây hỗ trợ đều không thiết lập nổi nền dân chủ mà đang chìm trong hỗn loạn và nội chiến. Cho đến năm 2016, chỉ số dân chủ của các quốc gia này rất thấp như Afghanistan là 2,55, Iraq là 4,08, Lebanon là 4,86, Libya là 2,25, Syria là 1,43, Ai Cập là 3,31... Không phải cộng đồng nào cũng có tính cách, văn hóa và nhận thức phù hợp với nền dân chủ. Không thể có nền dân chủ nếu các bên tham gia vào nền dân chủ không hiểu rõ thế nào là dân chủ và làm cách nào để duy trì dân chủ nghĩa là không thể có nền dân chủ nếu xã hội không có nền tảng tư tưởng vững chắc về dân chủ. Không phải quốc gia nào cũng có những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội phù hợp với nền dân chủ. Việc cố gắng mô phỏng một hình thức nhà nước mà không hiểu rõ triết lý, ưu nhược điểm và những điều kiện tồn tại của nó chỉ dẫn xã hội đến hỗn loạn. Sự bất mãn của dân chúng chỉ góp phần làm cho một nhà nước sụp đổ, dẫn xã hội đến hỗn loạn chứ không bao giờ đem đến một nền dân chủ. Chỉ có sự trưởng thành của họ mới tạo ra nền dân chủ.