Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Ngưỡng của lòng tham

Vào giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997 - 1998, tôi may mắn tham gia thị trường kinh doanh tiền tệ và ngoại hối.
Ở đó, tôi được chứng kiến sự biến động rất mạnh của đồng tiền và học được nhiều kinh nghiệm. Biến động thị trường có những lúc rất mạnh đòi hỏi phải luôn giữ được cái đầu lạnh để ra các quyết định nhanh chóng trong vài giây nhưng phải có độ chính xác cao. Khi mắc sai lầm trong giao dịch - điều xảy ra khá thường xuyên trong giai đoạn đầu - phải thẳng thắn thừa nhận sai lầm của mình với ngân hàng ngay lập tức và tìm cách khắc phục. Bất kỳ sai lầm nào, dù chỉ một mình mình biết mà không được giải quyết ngay, đều có hậu quả, và sẽ tốn công sức gấp nhiều lần để giải quyết các sai lầm sau đó nữa. 
Nghề kinh doanh ngoại tệ và vốn - còn được gọi là nghề buôn tiền - đòi hỏi một nguyên tắc: biết dừng lại ở ngưỡng cho phép. 
Người giao dịch viên lập lệnh mua, bán ngoại tệ hàng ngày thường được ngân hàng cấp một hạn mức chốt lỗ và không được vượt quá giới hạn này. Làm được điều này đòi hỏi tính kỷ luật và trách nhiệm rất cao. Khi giao dịch rơi vào trạng thái lỗ, người giao dịch thường có tâm lý không muốn “đóng trạng thái” để chấp nhận lỗ mà nấn ná, đợi thị trường sẽ xoay chiều, tức tỷ giá sẽ biến động theo hướng có lợi cho mình. Nhiều trường hợp đáng ra cần đóng trạng thái ngay, giao dịch viên lại tiếp tục mua, bán theo dự đoán của mình để kỳ vọng giảm lỗ. Sự “bám víu” vào thị trường khi đó có thể dẫn tới những khoản lỗ lớn hơn, rất dễ vượt ngưỡng cho phép.
Một số giao dịch viên sau đó bị rơi vào tâm lý sợ hãi. Họ tìm cách giấu lỗ, tiếp tục hy vọng giá cả các đồng tiền trên thị trường đảo chiều để khoản lỗ đó không còn. Sự sụp đổ của ngân hàng Barings và việc ngân hàng Société Générale lỗ hàng tỷ USD do giao dịch viên giấu lỗ và có các giao dịch gian lận vào năm 2008 đều xuất phát từ tâm lý sợ hãi này.
Ở chiều đối lập khác, giao dịch viên có lúc rơi vào tâm lý “tham lam” khi giao dịch của mình đang lãi. Họ tiếp tục gia tăng khối lượng giao dịch với hy vọng kiếm lời nhiều hơn. Mải đuổi theo lợi nhuận, đến khi thị trường đảo chiều, giao dịch viên không kịp “đóng trạng thái”, khoản lời ngay lập tức có thể biến mất hoặc chuyển sang trạng thái lỗ.
Lòng tham và sự sợ hãi luôn là hai con sói nấp trong mỗi người. Chúng ta thường thấy khi giá cổ phiếu hoặc bất động sản tăng, người ta tham hơn, tranh nhau nhảy vào thị trường để mua, từ đó giá tiếp tục được đẩy lên.
Ngược lại, khi thị trường rớt giá, mọi người rơi vào trạng thái sợ hãi, đồng loạt bán ra. Điều này thoạt nghe phi lý bởi chúng ta đang cố mua đắt và bán rẻ. Tuy nhiên, con người thường sẽ hành động theo cảm tính thay vì lý tính khi rối trí. Quan trọng nhất lúc đó, là ta có quản lý được lòng tham hay vượt qua sự sợ hãi của chính mình không.
Lòng tham, sự sợ hãi đều ảnh hưởng tới cá nhân nhà đầu tư tài chính, hay tổ chức mà anh ta đang làm việc. Ở mức độ rộng hơn, các vụ việc tham nhũng, hối lộ được đưa ra ánh sáng công lý gần đây cũng đều xuất phát từ lòng tham, nhưng phạm vi ảnh hưởng của chúng không dừng lại ở tổ chức hay cá nhân nữa. Đa phần (nếu không nói là tất cả) những người nhận hối lộ, tham nhũng hoặc cố tình vi phạm các nguyên tắc tín dụng không hề nghèo. Thậm chí, họ giàu và rất giàu. Tuy nhiên, do lòng tham cố hữu của con người, họ có khuynh hướng tiếp tục hành động của mình. “Điểm mù” của lòng tham đã che mắt khiến họ không nhận ra lằn ranh - ngưỡng của lòng tham - nơi mình cần dừng lại.
Tuần này, công chúng dõi theo những vụ án lớn trong ngành ngân hàng được xét xử. Ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro. Người làm nghề ngân hàng mỗi ngày đối mặt với rất nhiều bất trắc trong công việc. Do tiếp xúc thường xuyên với rất nhiều tiền, họ cần luôn giữ mình để không bị cám dỗ bởi chính đồng tiền đó, giữ cho cái đầu lạnh để biết đâu là lằn ranh mỏng manh giữa cái đúng và cái sai; giữ trái tim nóng để đóng góp cho ngân hàng và xã hội.
Mặc dù có một số vụ việc đáng buồn gần đây liên quan đến một vài ngân hàng, tôi vẫn đang nhìn thấy và tin rằng đa số những đồng nghiệp của tôi, những người đang làm việc trong các nhà băng vẫn nỗ lực để làm điều đúng mỗi ngày.   
Với người dân, theo dõi các phiên tòa là cơ hội để hiểu đúng hơn về nghề ngân hàng. Rằng một quyết định sai lầm của người làm nghề có thể gây những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và ảnh hưởng nặng nề đến sự nghiệp của chính họ như thế nào. Để hiểu ra, ngân hàng thực sự là nghề nhiều thách thức chứ không phải dễ kiếm tiền, làm giàu như trở bàn tay.
Tôi tin luật nhân quả của đạo Phật cũng đúng trong nghề tài chính hay chốn công quyền. Con người chỉ nên hưởng những gì đúng với sức lao động của mình. Nếu mình cố gắng vơ vét càng nhiều càng tốt và gây hại cho người khác, hậu quả chắc chắn sẽ đến vào lúc này hoặc lúc khác.
Biết được đâu là lằn ranh an toàn để quản lý được lòng tham và vượt qua sự sợ hãi là kỹ năng quan trọng để chúng ta sống một cuộc đời đáng sống; làm được những việc đáng làm.
Phạm Hồng Hải

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

hình thức "rút kinh nghiệm sâu sắc" là "chưa phù hợp".

Có thằng kẻ cắp thò tay lấy cái ví của bà đi chợ bị thộp được nhăn răng cười: Tưởng lấy được. Không được thì "Xin rút kinh nghiệm sâu sắc". Bà kia suýt mất của cũng không dám làm gì, vì thân nữ nhi và vì sợ bị gán cho tội làm loạn chợ.

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Đề xuất loại tác phẩm “Chí Phèo" khỏi SGK Ngữ văn 11

“Chí Phèo” được xem là một tác phẩm văn học hiện thực xuất sắc trước Cách mạng tháng 8/1945 và nằm trong chương trình Ngữ văn lớp 11 từ lâu. Tuy nhiên, anh Nguyễn Sóng Hiền - nghiên cứu sinh tiến sĩ Trường ĐH Newcastle (Australia) cho rằng nên loại bỏ tác phẩm này để tránh tác động xấu đến mặt nhận thức của học sinh.

Xin giới thiệu bài viết nêu quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Sóng Hiền:
“Ở khía cạnh văn học, tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao có thể được đáng giá là thành công về phong cách viết. Tuy nhiên, đứng trên góc độ giáo dục, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng cần cân nhắc kỹ lại.
Liệu có nên vẫn tiếp tục giữ trong chương trình phổ thông hay không, khi mà bản thân tác phẩm "Chí Phèo" không có ý nghĩa nhiều về mặt giáo dục, mà ngược lại, có thể có những tác động xấu về mặt nhận thức của học sinh?
Để minh chứng cho những nhận định trên, tôi xin phân tích một cách khách quan và logic về tác phẩm này.
Chí Phèo đại diện cho ai?
Nhiều nhà phê bình văn học đã cho rằng Chí Phèo đại diện cho tầng lớp nông dân bị lưu manh hoá. Nhưng theo tôi, đây là một nhận xét phiến diện và mang tính áp đặt.
Nếu xem xét kỹ toàn bộ tác phẩm, chúng ta đều có thể nhận thấy rằng Chí Phèo chỉ là bi kịch của một cá nhân. Xuất thân không cha, không mẹ, không nhà cửa, không người thân, không được giáo dục, Chí được nhặt về nuôi và đi ở hết nhà này đến nhà khác.
Nếu là đại diện cho tầng lớp nông dân thì thật mang tiếng cho nông dân mình quá.
Bản thân một đứa trẻ bị bỏ rơi đã mang cho mình số phận thiệt thòi, huống chi lại được sinh ra trong một xã hội lạc hậu và đầy rẫy bất công ấy.
Vậy, Chí đơn giản chỉ là một đứa trẻ không được giáo dục, và không thể là đại diện hay điển hình cho một tầng lớp nào trong xã hội ấy.

Hình ảnh Chí Phèo và Thị Nở trong bộ phim Lãng Vũ Đại ngày ấy.
Hình ảnh Chí Phèo và Thị Nở trong bộ phim "Lãng Vũ Đại ngày ấy".
Chí là người tốt hay xấu?
Khi còn là đứa trẻ, Chí vẫn là một đứa trẻ tốt. Chí không có ruộng nên năm 20 tuổi phải đi làm canh điền cho Bá Kiến.
Rõ ràng, trong xã hội ấy người ta vẫn nhận nuôi Chí, cho ăn, cho công việc. Có thể thấy, Chí vẫn được xã hội đó đón nhận và thừa nhận như một thành viên. Chí đã được ưu ái.
Tuy nhiên, sau khi làm thuê cho Bá Kiến, Chí bị ghen và bị đẩy đi tù 7, 8 năm. Nhiều học giả cho rằng điều này phản ánh sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến và địa chủ với tầng lớp bần nông như Chí. Nhưng xin thưa, nếu không sống ở xã hội đó mà xã hội có văn minh hơn đi nữa, những đứa trẻ bị bỏ rơi như Chí cũng khó để đón nhận được sự đối đãi công bằng từ xã hội. Thậm chí còn bị ngược đãi và lạm dụng, vì thân cô thế cô không ai bảo vệ.
Sau khi ra tù, Chí biến thành con người khác, một người xấu, hay một con quỷ. Chí uống rượu say, rạch mặt ăn vạ, đòi nợ thuê, phá phách, xin đểu, đốt quán...
Một đứa trẻ không cha, không mẹ, không được giáo dục bị đẩy đi ở tù liệu ra tù nó có thể trở thành người tốt không? Và chính lúc say Chí cũng chửi cái đứa nào đã đẻ ra mà không nuôi Chí chứ đâu chửi cái xã hội đang sống.
Đơn giản, Chí không phải là một sản phẩm của xã hội đó. Chí chỉ như những đứa trẻ cùng hoàn cảnh ở bất kỳ xã hội nào khác. Vì vậy, không thể quy chụp rằng Chí bị xã hội phong kiến lưu manh hoá, hay bị cường hào ác bá làm hại.
Lạ lùng thay, nhiều nhà phê bình và học giả còn hình tượng hoá cái cảnh Chí uống rượu say rồi cưỡng bức Thị Nở, và xem đó như sự thức tỉnh tính thiện trong con người Chí.
Trong bất kỳ xã hội nào, hành động cưỡng bức đó đều đáng lên án. Chí đã phạm pháp. Dù về mặt nhận thức, hắn không ý thức hành vi của mình, nhưng về khía cạnh giáo dục đó là hành động cần phê phán. Mà cưỡng bức với một người thiểu năng như Thị Nở thì càng phải lên án và phê phán thích đáng hơn. Chúng ta không thể và không nên bảo vệ những hành vi trái pháp luật. Điều đó chẳng khác gì cổ suý cho lớp trẻ để bắt chước làm theo.
Nhiều nhà phê bình còn cường điệu hoá cho cặp đôi Chí và Nở, xem như là một biểu tượng xứng đôi vừa lứa. Đó dường như không phải là chủ ý của nhà văn. Chí là một tên tội phạm, một kẻ lưu manh, còn Thị Nở là cô gái đáng thương, một người thiểu năng về nhận thức, ở mãi với Chí bảy ngày mới nhớ ra rằng phải về hỏi dì.
Như vậy, Nở là người bị hại, bị Chí lợi dụng lúc ngủ say để cưỡng bức. Vậy thì tại sao chúng ta có thể ghép đôi cho một kẻ lưu manh với cô gái vô tội? Chưa kể sau này, Nở lại mang bầu và lại ôm thêm nỗi khổ vào thân. Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu.

Thạc sĩ Nguyễn Sóng Hiền – hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ Trường ĐH Newcastle (Australia) cho rằng, tác phẩm Chí phèo chẳng những không có nhiều giá trị giáo dục mà còn có thể tác động xấu đến nhận thức của học sinh.
Thạc sĩ Nguyễn Sóng Hiền – hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ Trường ĐH Newcastle (Australia) cho rằng, tác phẩm Chí phèo chẳng những không có nhiều giá trị giáo dục mà còn có thể tác động xấu đến nhận thức của học sinh.
Chí đáng thương hay đáng lên án?
Số phận của Chí là một số phận đáng thương, vì khi sinh ra đã phải chịu thiệt thòi và bất công. Nhưng chúng ta cũng kịch liệt phê phán và phản đối những hành vi lưu manh, thú tính của hắn.
Và ngay cả việc giết Bá Kiến sau khi uống rượu say cũng là một hành động không thể dung thứ, cho dù nhiều học giả và nhà phê bình hình tượng hoá nó là sự phản kháng của tầng lớp bần nông đối với giai cấp cường hào, ác bá.
Nhưng xin thưa, đó là sự quy chụp và áp đặt khiên cưỡng. Chí đã giết người trong lúc say, đó là hành vi không phải của một con người. Cho dù ở bất kỳ xã hội nào, những hành động đó đều đáng bị lên án và cách ly ra khỏi đời sống xã hội”.
Theo Dân Trí





















Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

10 phát ngôn tiết lộ cách nhìn thế giới của Tổng thống Putin


Giới quan sát phương Tây đến nay vẫn không khỏi thắc mắc về động lực thực sự của Tổng thống Nga Vladimir Putin sau nhiều năm lãnh đạo chính trường Nga. Song thực tế, đằng sau quá trình ra quyết định của Điện Kremlin là những quan điểm thể hiện nhất quán qua những bình luận của người đứng đầu chính phủ Nga.




Tổng thống Nga Vladimir Putin (trái) và người đồng cấp Mỹ Donald Trump (Ảnh: Reuters)
Tổng thống Nga Vladimir Putin (trái) và người đồng cấp Mỹ Donald Trump (Ảnh: Reuters)
"Mỹ là một cường quốc"
Trong bài phát biểu tại Diễn đàn kinh tế quốc tế St. Petersburg tháng 6/2016, Tổng thống Putin nói rằng: "Mỹ là một cường quốc. Có lẽ là cường quốc duy nhất hiện nay. Chúng tôi chấp nhận điều đó và sẵn sàng hợp tác với họ. Điều mà chúng tôi không cần đó là việc họ can thiệp vào các vấn đề của chúng tôi, bảo chúng tôi phải sống như thế nào, hay ngăn cản châu Âu thiết lập quan hệ với chúng tôi".
Về cáo buộc Nga can thiệp vào nước ngoài
"Đó là chiến dịch tuyên truyền không ngừng của truyền thông Mỹ và sự tài trợ trực tiếp của các tổ chức phi chính phủ Mỹ... Hãy lấy quả địa cầu, xoay một vòng và đặt ngón tay của các bạn vào bất cứ đâu, tôi có thể đảm bảo rằng ở đó có các lợi ích của Mỹ, có sự can thiệp của Mỹ. Người Mỹ muốn gì? Để mọi người phải cúi đầu tôn trọng", ông Putin nói hồi tháng 6/2017.
Về châu Âu
"Liệu các nước châu Âu được hưởng lợi khi tuyệt đối phục vụ cho mục đích chính sách đối ngoại và thậm chí đối nội của Washington? Tôi không chắc. Đây có phải là mục đích của nền chính trị nghiêm túc, và vai trò của các quốc gia này sẽ tiếp tục nếu họ muốn tự gọi là cường quốc”, Tổng thống Putin nói tại một diễn đàn đầu tư vào tháng 10/2016.
Về NATO

Binh sĩ NATO diễn tập quân sự ở Lithuania năm 2014. (Ảnh: AP)
Binh sĩ NATO diễn tập quân sự ở Lithuania năm 2014. (Ảnh: AP)
"Không còn Liên Xô, không còn Khối phía Đông. Theo quan điểm của tôi, NATO cần một kẻ thù bên ngoài để biện minh cho sự tồn tại của mình do đó họ luôn phải tìm kiếm cho mình một kẻ thù, và khiêu khích để tạo ra kẻ thù ở những nơi không có... Ngày nay NATO là một công cụ trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Họ không có đối tác nào ở đó mà chỉ có các chư hầu", ông Putin trả lời phỏng vấn đạo diễn người Mỹ Oliver Stone hồi tháng 6/2017.
Về Trung Đông
"Đang có một thế lực tìm cách định hình lại khu vực này và áp đặt mô hình bên ngoài vào đây thông qua thay đổi chế độ hoặc sử dụng vũ lực. Thay vì đấu tranh chống chủ nghĩa cực đoan, thay vì làm theo một cuộc chiến như vậy, một số thế lực ngang hàng với chúng tôi muốn biến sự hỗn loạn trở thành vĩnh viễn”, ông Putin nói tại Hội nghị Valdai tháng 10/2017.
Về Triều Tiên

Một vụ thử tên lửa của Triều Tiên (Ảnh: Reuters)
Một vụ thử tên lửa của Triều Tiên (Ảnh: Reuters)
"Tất nhiên chúng tôi lên án các vụ thử hạt nhân của Triều Tiên và tuân thủ tất cả các nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên để giải quyết vấn đề này cần có sự đối thoại, chứ không phải dồn Triều Tiên vào đường cùng bằng các đe dọa quân sự, hay đặt biệt danh và ‘khẩu chiến’ công khai bằng những lời phỉ báng. Dù quý vị có thích chính quyền Bình Nhưỡng hay không, quý vị cũng cần phải công nhận rằng Triều Tiên là một quốc gia có chủ quyền", Tổng thống Putin nói tại Hội nghị Valdai tháng 10/2017.
Về lật đổ Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovich
"Những gì xảy ra ở Kiev là một cuộc tiếm quyền vi hiến, có vũ trang. Ông Viktor Yanukovich đã từ bỏ quyền lực và không còn cơ hội tái tranh cử. Tại sao Ukraine rơi vào hỗn loạn? Tại sao biểu tình đòi quyền lực? Đây là một quyết định ngớ ngẩn và gây tác dụng ngược. Tôi tin rằng đó là những hành động làm mất ổn định tình hình ở miền đông nước này”, ông Putin phát biểu trong cuộc họp báo hồi tháng 3/2014.
Về chính quyền ở Kiev

Đụng độ ở quảng trường Maiden (Kiev) tháng 2/2014 (Ảnh: Sputnik)
Đụng độ ở quảng trường Maiden (Kiev) tháng 2/2014 (Ảnh: Sputnik)
“Người dân Nga và Ukraine có chung lợi ích. Điều không giống nhau là mục đích của chính quyền Ukraine và giới tinh hoa… Họ chỉ có điểm mạnh duy nhất để xuất khẩu là sự kỳ thị Nga và sự chia rẽ chính trị giữa hai nước", ông Putin nói tại Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Đức hồi tháng 7/2017.
Về hệ thống chính trị của Nga
“Chế độ quân chủ đã được truyền lại từ Đế quốc sang thời Liên Xô tuy cách thể hiện bên ngoài có sự thay đổi. Chỉ đến đầu những năm 1990, các sự kiện diễn ra đã đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển mới của Nga", ông Putin trả lời phỏng vấn của đạo diễn Oliver Stone tháng 6/2017.
Vai trò của Nga trên trường quốc tế
“Nga là một đất nước với lịch sử nghìn năm và gần như luôn được hưởng đặc quyền của chính sách đối ngoại có chủ quyền. Ngày nay, chúng tôi cũng sẽ không đi ngược lại với truyền thống này. Ngoài ra, chúng tôi cũng hiểu rõ thế giới đã và đang thay đổi như thế nào và chúng tôi có một nhìn nhận rất thực tế về tiềm lực và các cơ hội của mình. Chúng tôi muốn tương tác với tất cả các đối tác độc lập, có trách nhiệm để có thể hợp tác xây dựng một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, đảm bảo an ninh và thịnh vượng không chỉ cho một vài quốc gia mà cho tất cả”, ông Putin phát biểu tại Munich tháng 2/2007.
Minh Phương
Theo RT

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Qua đèo Ngang

"Qua đèo Ngang" là bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan, một nữ sĩ ở thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.Với phong cách trang nhã, bài thơ "Qua đèo ngang" cho thấy cảnh tượng Đèo ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời thê hiện nỗi nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả
Bài thơ Qua Đèo Ngang được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.*
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
* Có phiên bản ghi là "rợ mấy nhà"
Trên đường vào Phú Xuân…, bước tới đèo Ngang lúc chiều tà, cảm xúc dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài "Qua đèo Ngang". Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà thương nước của một người con hiến mình cho tổ quốc. Lần đầu nữ sĩ "bước tới Đèo Ngang", đứng dưới chân con đèo "đệ nhất hùng quan" này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng bình, vào thời điểm "bóng xế tà", lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã "tà", đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm "tà" cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ "chen", vần lưng: "đá" – "lá", vần chân: "tà" – "hoa", thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước.





Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2017

Nhàn

Nhàn
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

10 đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, không có nữ đại đệ tử Liên Hoa Sắc

Ngày xưa thuở Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, đa phần các đệ tử xuất gia của Ngài đều chứng A La Hán, như 1.250 vị tỳ kheo mà kinh thường nhắc đến. Đặc biệt có 10 vị mệnh danh là Thập Đại Đệ tử, trong 10 vị này mỗi vị đều có sở trường, sở chứng và đạo hạnh riêng.
Nữ Đại Đệ tử Liên Hoa Sắc là người xuất sắc trong đoàn Ni chúng, cũng có thần thông đệ nhất, đắc quả A La Hán, nhưng không nằm trong 10 vị này.
  1. Tôn giả Ðại Ca Diếp, Ðầu đà đệ nhất

Ngài được Đức Thế Tôn nhiếp hóa trước hai tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được Thế Tôn cho là Đầu Đà đệ nhất. Sinh hoạt theo hạnh đầu đà là một lối sinh hoạt cực kỳ đơn giản nhằm mục đích tịnh hoá tâm hồn, rất thích hợp với những ai thích tu phạn hạnh như Ngài Ca Diếp. Sau khi xuất gia tu hạnh Đầu Đà trong 8 ngày liền, Ngài đắc quả A La Hán. Ngài tinh thông con.đường thiền định, nêu gương sáng cho chúng Tăng về các hạnh : “ Ít muốn, biết đủ, tinh tân, viễn ly ”. Ngài thường độc cư trong rừng dù tuổi đã cao.
Đầu-đà (tu khổ hạnh) đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ; Ngài là người yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của Phật giáo.
  1. Tôn giả A Nan Ðà, Ða văn đệ nhất

Đa văn đệ nhất, người “nghe và nhớ nhiều nhất”, được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Độ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp; tuy là Đa văn đệ nhất nhưng sau khi Đức Phật Niết-bàn ông mới chứng quả A-la-hán rạng sáng ngày kết tập kinh điển đầu tiên.
Ngài là em họ Đức Phật, xuất gia khi Phật về thăm hoàng cung, Ngài là vị tỳ kheo đệ nhất về 5 phương diện : Đa văn, cảnh giác, sức khỏe đi bộ, lòng kiên trì và hầu hạ chu đáo. Được thánh chúng đề nghị làm thị giả Đức Phật khi Đức Phật được 56 tuổi.
  1. Tôn giả Xá Lợi Phất, Trí huệ đệ nhất

Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (sa. hīnayāna); trước khi xuất gia, ông là một luận sư nổi tiếng trong giáo đoàn Bà-la-môn.
Ngài được xem là trưởng tử của đức Phật, là chấp pháp tướng quân, thường giảng dạy đồ chúng thay cho đức Phật và hướng dẫn cho nhiều vị đắc quả A La Hán. Ngài luôn luôn tỏ ra khiêm tốn, tận tụy, nhiệt tình, được chư Tăng thán phục và được Đức Phật khen là Trí tuệ bậc nhất. Ngài đắc quả A La Hán 4 tuần sau khi xin gia nhập giáo đoàn.
  1. Tôn giả Tu Bồ Ðề, Giải không đệ nhất

Tu Bồ Đề là vị đệ tử Giải Không Đệ Nhất (am hiểu tính không) của Phật Thích Ca.
Theo truyền thuyết của kinh sách Đại thừa, lúc Ngài mới sanh, trong gia đình Ngài toàn hiện ra những triệu chứng “ không ”. Các đồ vật trong nhà, từ kho lẫm, lu vãi… mọi vật biến đâu mất cả, chỉ thuần tịnh một mùi hương chiên đàn và hào quang sáng soi chấn động cả ba cõi, không thấy đâu là tường vách giới hạn. Hỏi về ý nghĩa điềm lạ này thì được thầy tướng bảo rằng đó là điều cực lành. Rồi nhân vì điềm “ không ” ấy, nên cha mẹ Ngài mới đặt tên cho Ngài là Tu Bồ Đề, nghĩa là Không Sanh. Lại cũng có nghĩa là Thiện Cát (tốt lành) hay Thiện Hiện (hiện điềm tốt).
  1. Tôn giả Phú Lâu Na, Thuyết pháp đệ nhất



Tôn giả Phú Lâu Na vốn được gọi là “Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử”. Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt. Danh hiệu Ngài dài như thế chính là biểu hiện cho Tôn giả khi thuyết pháp cũng trường mãn vô cùng. Danh xưng của Ngài được dịch sang tiếng Trung Hoa là “Mãn Từ Tử”. Đức Phật thường ngợi khen biện tài ngôn luận của Tôn giả trước đại chúng.
  1. Tôn giả Mục Kiền Liên, Thần thông đệ nhất

Ngài được Đức Phật khen và đại chúng công nhận là Thần thông bậc nhất. Ngài đã nhiều lần thi triển thần thông như phương tiện để giáo hóa cứu độ mọi người. Ngài cùng với Xá Lợi Phất điều hành và hướng dẫn Tăng chúng, cũng như độ cho nhiều người chứng đắc Thánh quả. về sau, Ngài bị phái Ni Kiền Tử hãm hại bằng cách lăn đá làm Ngài bị tử thương. Đức Phật xác nhận Ngài Mục Kiền Liên đã nhập Niết Bàn ngay tại chỗ thọ nạn, nơi Ngài bỏ thân tứ đại.
  1. Tôn giả Ca Chiên Diên, Luận nghị đệ nhất

Sở trường của Tôn giả Ca Chiên Diên chính là luận nghị, chuyên môn biện luận về đạo lý. Quý vị có thắc mắc về đạo lý gì muốn hỏi Tôn giả, với tài biện luận của mình, Tôn giả có thể nói thao thao bất tuyệt, khiến cho người nghe say sưa thích thú.
  1. Tôn giả A Na Luật, Thiên nhãn đệ nhất

Nhân một lần bị Phật quở khi Tôn giả ngủ gục trong lúc đang nghe pháp, Tôn giả lập thệ không ngủ nghỉ nữa. Vì dụng công tu tập quá mức, chẳng bao lâu Ton giả bị mù hai mắt. Đức Phật dạy Tôn giả tu tập “Kim cang chiếu minh tam muội” chẳng bao lâu A Na Luật chứng được thiên nhãn thông.
  1. Tôn giả Ưu Ba Ly, Trì giới đệ nhất

Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả luôn luôn quan tâm đến các vấn đề pháp chế, quan trọng nhất vẫn là vấn đề giữ giới theo lời dạy của Đức Phật trước khi nhập Niết bàn.
  1. Tôn giả La Hầu La, Mật hạnh đệ nhất
Mật hạnh đệ nhất, ông cũng là người con duy nhất của Thái tử Tất-đạt-đa (Thái tử Tất-đạt-đa sau này chứng quả thành Đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni)
Trong suốt 49 năm giáo hóa, từ Thành đạo cho đến Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quy tụ xung quanh hào quang của Ngài một số đệ tử cả xuất gia lẫn tại gia. Kinh Đại thừa ghi lại là 1.250 người đắc quả A La Hán, thoát khỏi luân hồi. 10 vị trên là những được coi là các Đại đệ tử.

Tuy nhiên có một vấn đề đáng được nêu ra là ngày nay người theo Phật, nghiên cứu tìm hiểu lời Phật dạy thật đông đảo, nhưng người tu hành chứng ngộ lại rất hiếm. Phần vì con người không tu chuyên nhất, đâu cũng cầu cũng bái; Phần thì bái Phật để cầu danh cầu lợi, cầu sức khỏe tiền tài, mà ít ai cầu cho tâm an nhiên bình ổn, nhìn lại chính mình, tự tâm hướng thiện; Phần vì lời dạy của Đức Phật bị mai một, bị diễn giải theo hiểu biết của của con người, xa rời những lời do kim khẩu Đức Phật nói ra.
Đức Phật từng giảng thời mạt Pháp có loài hoa mang tới điềm lành linh dị khai nở, có Đức Thánh Vương hạ thế độ nhân, người hướng Phật hãy mau đi tìm….